Quá chậm
Tên gốc: "Chapter 430: Overdue"
GÓC NHÌN CỦA ARTHUR LEYWIN
“Không thể nào chuyện này xảy ra được.”
Tôi nhìn chằm chằm vào những vết gạch trên tường. Chul nhầm rồi. Hẳn là cậu ta nhầm rồi. Tôi không chấp nhận nổi rằng mình đã đi quá lâu như vậy. Tôi cảm thấy như mới chỉ có vài giờ trôi qua thôi.
Chul nhún vai với vẻ hờ hững, rồi nhấc cánh tay vạm vỡ ngang qua đầu để vươn vai. “Phải vậy thôi, bởi vì chuyện này đã xảy ra rồi.”
Tôi hỏi: “Nhưng còn cuộc chiến đang diễn ra thì sao?” nhìn thẳng vào khuôn mặt cậu chiến binh có dòng máu asura lai. “Liệu thằng Agrona—”
Chul càu nhàu và quay đi. “Tốt hơn là cậu nên nói chuyện với ngài Mordain. Đi nào. Tớ sẽ dẫn đường cho cậu.”
Tôi đi theo, nghiến răng trong miệng. Regis và bé Sylvie bước đằng sau tôi, tâm trí mỗi người bọn họ truyền vào đầu tôi sự bối rối lẫn khó chịu ở một cường độ khác hẳn nhau.
Regis hỏi trong tâm trí tôi: ‘Vẫn còn quá sớm để đoán thử xem cụ thể đã xảy ra chuyện quái gì nhỉ?’
Phải, tôi đáp trả một cách cáu kỉnh.
‘Con cảm thấy dòng chảy thời gian trôi qua chỉ như một cơn đau ngày càng tăng dần trong xương máu khi mana con cạn kiệt,’ bé Sylvie nghĩ. ‘Con chỉ muốn nói rằng lẽ ra không thể trôi qua đến hàng tháng trời được—Đáng lẽ con đã héo mòn vì mất nước trong thời gian ngắn hơn thế nhiều—nhưng…’
‘Khi chúng tớ kiểm tra cậu, thì cậu đã khá say xẩm mặt mày rồi,’ Regis trả lời với con bé. ‘Có thể cậu đã, kiểu như, trong tình trạng ngưng hoạt động hay đại loại thế thì sao?’
‘Tâm trí mình thì…’ bé Sylvie ngừng lời, đang gắng lựa từ để nói. ‘Mình tin rằng lúc đó mình vẫn đang tái tạo lại nhờ việc dùng được cái cục-trứng-đá đó nhỉ? Bộ não bằng xương bằng thịt của mình đã phải vật lộn để hòa trộn các ký ức đầy mâu thuẫn về những gì mình trải qua vào giai đoạn giữa cái chết và lần trở lại của mình. Có khả năng rằng aether và mana được truyền vào quả trứng để hồi sinh mình cũng đã giúp mình duy trì sự tồn tại ở nơi đó, cơ mà thực sự thì mình chẳng biết nữa.’
‘Tuyệt, tuyệt, tuyệt,’ Regis nghĩ. ‘Có phải chỉ mỗi tôi đang cảm giác thế hay thực sự gã Chul đang khổ sở giấu diếm điều gì đó nhỉ?’
Đủ rồi, tôi nạt ngang, chuỗi trò chuyện qua lại trong tâm trí tôi như đang đe dọa làm bung nốt sợi dây thần kinh sắp long ra trong óc. Làm ơn, vậy là… đủ rồi.
Sự trách móc của tôi làm xuất hiện một cú nhói nhẹ rò rỉ ra thông qua liên kết tinh thần giữa cả bọn làm cả hai đứa tụi nó đều cảm nhận được, và tôi nhanh chóng dựng lên rào cản trong tinh thần mình để chặn tụi nó lại. Những suy nghĩ của riêng tôi giờ chỉ là một tiếng ồn nhỏ, kêu vo ve vô nghĩa. Tôi chỉ đơn giản nhìn chằm chằm vào lưng Chul và đi theo cậu ta thông qua khắp nhà cửa của nhóm người asura nổi loạn, chỗ vốn là hầm ngục được cải biến thành khu tị nạn.
“Cậu khác trước đấy,” Khá bất ngờ, Chul lên tiếng. “Năng lượng trong cậu. Có vẻ như cậu đã mạnh hơn trước đây. Nội sự hiện diện của cậu thôi đã giống như có cánh tay đang kẹp cổ tớ vậy.”
Tôi cau mày sau lưng cậu ta, chẳng có tâm trạng đâu mà nói chuyện phiếm. Trong lúc vội vã đưa bé Sylvie ra khỏi vùng hư không để rồi phát hiện ra chúng tôi đã đi vắng lâu tới vậy, tôi thậm chí không có lấy một giây để hướng sự tập trung vào trong lõi của mình, thứ lại lần nữa được nâng thêm sức mạnh bởi việc hình thành lớp vỏ aether thứ ba bao quanh những gì còn sót lại từ lõi mana ban đầu của mình.
Chul dường như hiểu ý từ việc tôi im lặng. Cậu ấy không hỏi thêm câu nào nữa, và chúng tôi đi qua khu vực Hearth này mà chẳng để ý gì cho đến khi mùi từ các loài thực vật lạ bốc lên nồng nặc khiến các giác quan của tôi tỉnh táo trở lại.
Khoảng hơn chục asura đang đứng trong mấy lùm cây, túm tụm lại bên dưới những nhánh cành do mấy cái cây charwood vươn ra. Việc bọn tôi đến đã gây ra sự khuấy động. Từ những biểu cảm như bị sốc, hoảng hốt và thậm chí là phẫn nộ đang hướng về phía bé Sylvie, rõ ràng là các asura tị nạn này của tộc phượng hoàng không ưa thích gì việc có một con rồng ở giữa bọn họ.
‘Đã nói rồi mà,’ Regis nghĩ, rõ là không tự hãm mỏ lại được.
Tôi lấy làm lạ khi họ phản ứng quá mạnh mẽ như vậy. Họ đã sống trong khu vực Hearth này suốt hàng trăm năm, an toàn trước các âm mưu của tên Kezess. Bé Sylvie không phải là mối đe dọa với họ.
Nhưng tôi chỉ có vài giây để cân nhắc chuyện này, vì sự chú ý của tôi lập tức tập trung vào ông Mordain. Gã phượng hoàng cao lớn đang đi chầm chậm giữa hai thân cây charwood, tay vắt sau lưng, cái áo choàng màu hoàng kim của ông ấy cà lướt qua mặt cỏ dưới đất.
Tôi đi vòng qua người Chul, tăng tốc độ bước tới trước. Một vài gã phượng hoàng khác bắt đầu bỏ đi. Những người còn ở lại thì tỏ vẻ đề phòng và căng thẳng. Sẽ chẳng nghi ngờ gì nếu tôi mà tỏ thái độ thù địch với ông Mordain dù bằng bất kỳ cách nào thì bọn họ sẽ lao vào bảo vệ ông ấy mà không mảy may thắc mắc gì cả.
Cảm nhận được tôi đang lại gần, ông Mordain quay lại, nhíu lông mày, mím môi: “Arthur Leywin, cuối cùng cậu đã trở lại với chúng tôi—”
Tôi nói: “Tôi cần biết chuyện gì đang xảy ra ngoài đó,” không quan tâm liệu mình có đang tỏ ra thô lỗ hay không. “Chul nói đã hai tháng trôi qua rồi. Nếu thật vậy, Dicathen có an toàn không? Thằng Agrona lại tấn công à?”
Ông Mordain giơ hai ngón tay làm
cử chỉ hòa bình1
, rồi ra hiệu đi tới băng ghế gần đó. “Có nhiều thứ để nói với cậu. Có lẽ nếu chúng ta…”
(Người dịch: mình sẽ đặt hình giơ tay ra dấu hòa bình ‘a sign of peace’ ở cuối bài)
“Không!” Tôi cắt ngang lời, giọng đanh thép của tôi vang lên một cách khó chịu ở khu lùm cây yên tĩnh này. “Cứ nói lẹ đi.”
Ông Mordain nhìn tôi với vẻ khá ân cần như thường lệ, chẳng ảnh hưởng gì trước thái độ của tôi. Rồi thì, kèm với một nụ cười nhẹ, ông ta lại hất đầu chỉ về phía với băng ghế thêm lần nữa và đi tới hướng đó.
‘Ba Arthur à, có khi đi ngăn một cuộc cãi vã còn lẹ hơn ngồi đòi hỏi mãi như thế đấy?’ Bé Sylvie gợi ý.
Tôi nhắm mắt lại và hít vào một hơi thật sâu, làm không khí lấp đầy phổi. Khi để hơi thở trôi đi, tôi hình dung nó cuốn theo phần nào cơn giận dữ sinh ra do sự hoảng loạn của mình. Khi làm thế chẳng giúp được gì, tôi hùng hổ đi đến băng ghế và ngồi xuống cạnh ông Mordain với vẻ cứng nhắc.
“Tên Agrona không tấn công Dicathen nữa,” Mordain nói ngay. Ông ta ngồi vắt chéo chân và hơi nhích người chuyển sang tư thế thoải mái hơn trên băng ghế trước khi nói tiếp. “Một phần vì hắn vẫn đang bận rộn quản lý việc ở Alacrya. Thêm nữa, dù sao cũng là bởi lũ rồng.”
Toàn thân tôi căng cứng lại. “Ý ông là sao?”
Mấy ngón tay Mordain gõ nhịp nhịp ở phần lưng sau của băng ghế. Chỉ duy nhất có một lần mấy tiếng ồn và chuyển động gõ nhịp đó dừng lại, nhưng nó đủ làm sự lo lắng của ông ta mất đi. “Chưa đầy một tuần sau khi Aldir và cậu đi vào cổng dịch chuyển, một khe nứt mở ra trên bầu trời ở vùng Beast Glades. Thực ra chẳng xa chỗ này mấy đâu. Rồi lũ rồng bắt đầu tuôn ra.”
Tôi đứng phắt dậy. “Thằng Kezess—lũ rồng—bọn chúng có—”
“Chúng nhanh chóng lan ra khắp lục địa. Người dân của các cậu, có vẻ như, đã chào đón chúng với vòng tay rộng mở. Bọn rồng tuần tra trên bờ biển và bầu trời, nhưng cũng tự cài người vào các thành phố lớn nhất của các cậu. Chúng trở thành lũ cố vấn và kẻ bảo vệ, hoặc chúng đã tự tuyên bố như vậy.”
Tiếng búa gõ đầy đau đớn trong lòng tôi bắt đầu dịu đi phần nào. “Chúng không tấn công ai chứ?”
Ông Mordain lắc đầu, rồi vẫy tay ra hiệu cho tôi ngồi xuống. “Dường như tên Kezess đã thực hiện đúng lời hứa giúp cậu bảo vệ lục địa của mình. Mặc dù…” Lời ông ấy ngưng lại, không nói nốt suy nghĩ của mình, nhưng đôi mắt rực lửa của ông ta vẫn dán vào mặt tôi.
Tôi thả lỏng người ngồi xuống lại. “Bọn rồng ở mọi thành phố lớn. Ngài đang nghĩ rằng chúng bảo vệ chừng nào thì cũng là mối đe dọa chừng ấy.”
Mưu đồ khéo léo xảo quyệt của tên Kezess trở nên rõ ràng hơn khi tôi suy xét về nó. Chẳng cần phải ngụ ý thêm về mấy mối đe dọa kiểu gây bạo lực trực tiếp vốn nhiều khả năng sẽ xảy ra nữa, mà chính hành vi chiếm đóng này còn cho phép hắn ta biến sự an toàn của lục địa Dicathen thành một món vũ khí gián tiếp bằng cách dọa rằng sẽ rút lực lượng của hắn đi. Liệu có nhà lãnh đạo nào—như vua, cố vấn hay các tướng Lance—có thể thuyết phục người dân rằng họ sẽ an toàn hơn khi không có lũ rồng hiện diện ở đây cơ chứ?
(Người dịch: “they would be safer without the dragons present?” Với cách viết như thế thì câu gốc hàm ý hai nghĩa: Một là “họ sẽ không an toàn vì không có lũ rồng bảo vệ trước phe Agrona”, hai là “họ sẽ không an toàn vì mối nguy hiểm đến từ chính lũ rồng”)
Ngay cả tôi đây liệu có đủ năng lực gây ảnh hưởng ở khía cạnh chính trị nhằm thuyết phục người dân như thế không? Tôi tự hỏi.
Sắc mặt ông Mordain trở nên dữ tợn. “Thằng Kezess này là loại cổ điển, và hắn đã từng chơi trò này nhiều lần trước đây ở Epheotus rồi, với mức cược lớn hơn so với bây giờ nhiều. Hay, ít ra là chơi trò này với các trường hợp liên quan đến hắn.”
Tôi lướt mắt quanh khu lùm cây này. Bé Sylvie và Regis đang đứng gần đây, theo dõi cuộc trò chuyện này diễn ra. Bé Sylvie cau mày nghĩ ngợi, và tôi đoán được rằng con bé đang nghĩ về khoảng thời gian con bé được đào tạo ở Epheotus. Mặt khác, Regis thì chẳng quan tâm đến sự xuất hiện của lũ rồng.
Khi cảm thấy bị tôi thăm dò tâm trí, cậu ta hơi ngó đầu qua và bắt gặp ánh mắt của tôi. ‘Toàn bộ mục đích của việc ta đứng chung phe với thằng tâm thần toàn năng này là nhằm câu giờ, phải không? Nhằm đối phó với từng thằng một trên cái danh sách dài ngoằng cả lũ thần thánh mất dạy của ta chứ nhỉ? Việc này sẽ giúp ta làm điều đó. Mấy con rồng ở Dicathen sẽ không chống lại ta hay người dân trong khi thỏa thuận của cậu với tên Kezess vẫn còn hiệu lực.’
“Ngài có tin tức gì về gia đình tôi không?” Tôi hỏi, không che giấu nổi cảm giác tội lỗi vì đã bỏ mặc họ hàng tháng trời mà chẳng nói lấy một lời.
Ông Mordain nở một nụ cười buồn với tôi và khẽ lắc đầu. “Mặc dù lũ rồng có thể là đồng minh của cậu, nhưng chúng chắc chắn vẫn là kẻ thù của tôi, ít nhất là đến chừng nào tên Kezess còn cai trị chúng. Thật khó để biết được chuyện đó với chút thông tin ít ỏi mà tôi có về những việc đang xảy ra bên ngoài khu Hearth này.”
Nén cơn thở dài lại, tôi đứng dậy lần nữa. “Thế thì tôi e rằng mình cần phải rời đi ngay lập tức. Tôi đã đi xa quá lâu rồi.”
Ông Mordain ngồi nguyên tại chỗ, ngước lên nhìn tôi từ băng ghế. “Có lẽ mức cấp bách không lớn như cậu nghĩ đâu. Nếu cậu chịu nhận lời khuyên từ tôi, thì phải nói là, tôi khuyên cậu nên chuẩn bị đầy đủ hơn trước khi phi vào mõm rồng.”
(Nguyên văn: “If you’ll take my council” có lẽ tác giả đã voice-to-text nhầm chữ “counsel” thành chữ “council”)
‘Nghe này, có phải con nhóc Ellie bé bỏng bị treo chân lên miệng núi lửa sắp trào đâu mà phải chạy vội về Vildorial lúc này chỉ để làm mỗi một việc là cứu nó, đúng không?’ Regis lại lôi mọi kiểu tế nhị quyến rũ thường thấy ở cậu ta ra mà hỏi đểu. “Có lẽ ta nên, cậu biết đây, tìm hiểu xem chuyện quái gì đang xảy ra trước đã.”
(Nguyên văn: “his usual charm and tact” là cách ví von của Art nhằm đá đểu kiểu ăn nói của Regis)
‘Mặc dù con không hẳn là đồng ý với cái kiểu ăn nói như này,’ Bé Sylvie nói thêm, ném cho Regis một ánh nhìn bực tức, ‘nhưng Regis nói đúng. Nếu bọn rồng đang kiểm soát Dicathen, điều đó sẽ rất nguy hiểm cho tất cả chúng ta.’
Tôi chẳng thấy lập luận của họ thuyết phục tý nào cả, nhưng tôi biết một cách khác để đảm bảo rằng gia đình mình đang an toàn hay không. Trở về chỗ ngồi, tôi rút cái vật tạo tác dùng quan sát ra. “Ngài Mordain, xin thư thả cho tôi một chốc. Tôi muốn nghe ngài nói, nhưng tôi cần phải chắc chắn một việc đã.”
Nắm lấy viên pha lê màu trắng sữa, tôi truyền aether vào nó. Tầm nhìn của tôi thay đổi, tập trung vào bề mặt viên pha lê trong khi các tia tua rua aether làm theo mong muốn của tôi. Như tôi đã làm nhiều lần trước đây, tôi nghĩ về bé Ellie, và các giác quan của tôi bị rút vào trong vật tạo tác và băng qua hàng ngàn dặm ngăn cách chúng tôi. Khi sự di chuyển ào ạt này dừng lại, tôi thấy mình đang nhìn xuống con bé từ trên cao. Con nhóc đang nằm ườn ra trên ghế gỗ, một chân đá lên trời móc qua cánh tay, và con bé đang nhìn với vẻ chán nản tột độ.
Tôi nhận ra xung quanh con bé là phòng thí nghiệm của lão Gideon, và khi tôi nghĩ về lão phát minh già này thì góc nhìn hơi thay đổi, hiện ra cả hai người Gideon và Emily. Họ đang nói chuyện, hỏi bé Ellie nhiều câu. Họ dường như chẳng gặp nguy hiểm gì…
Tôi xem thêm một phút nữa nhưng không có gì thay đổi. Ông Gideon hoặc Emily nói điều gì đó mà tôi không nghe được, rồi sau đó bé Ellie trả lời nhưng tôi không nghe thấy tiếng. Nếu nỗ lực hơn tý, tôi có thể đọc được chuyển động môi của họ, nhưng chỉ cần biết rằng bé Ellie an toàn là đủ. Thấy con bé quá thoải mái—thậm chí là buồn chán—khiến tôi tự tin rằng mẹ mình cũng sẽ ổn thôi.
Rút tầm nhìn ra khỏi vật tạo tác, tôi trả nó vào lại ấn không gian đa chiều trên tay mình.
“Cảm ơn vì sự kiên nhẫn của ngài,” tôi nói với ông Mordain, vốn đang để ánh mắt của mình đi lang thang đâu đó trong khi tôi chú tâm vào tầm nhìn xa xôi do vật tạo tác kia mang lại.
“Aldir đâu?”
Tôi ngước lên và nhận ra lão Wren Kain đã xuất hiện trong lúc tôi đang tập trung vào viên pha lê.
“Lão ấy…” Tôi ngừng lời, ánh mắt quét qua tất cả các asura đang đứng lắng nghe.
Lão Aldir đã đúng. Cái chết của lão sẽ là thứ vốn liếng mà tôi có thể dùng cho cả thằng Kezess lẫn người dân ở Dicathen. Giờ đây, với việc lũ rồng đang hiện diện ở Dicathen, tôi cần mọi lợi thế mà mình có được.
Từ trong ấn không gian đa chiều của mình, tôi rút thanh kiếm lá lúa màu bạc mà lão Aldir gọi là Silverlight ra, nhìn lão Wren một cách kiên định nhưng trang trọng. “Tội ác của ông ấy khi chống lại lục địa Dicathen không thể không bị trừng phạt.”
Cả hai người Mordain và Wren đều nhìn chằm chằm vào lưỡi kiếm, sững người trong giây lát.
“Đồ hạ đẳng ngu ngốc,” lão khổng thần này khạc nước bọt xuống đất, giơ hai tay lên trời với vẻ than vãn và lườm tôi. “Aldir không phải là kẻ thù của mày. Mày không biết cậu ta đã từ bỏ những gì để rời khỏi Epheotus đâu. Nếu mày nghĩ Kezess sẽ thưởng cho mày vì đã làm công việc bẩn thỉu giùm hắn, thì mày ngu hơn tao từng nghĩ đấy. Nếu tao mà biết việc đào tạo cho mày sẽ dẫn bọn tao đến cảnh này, thì tao đã mặc kệ đéo thèm dạy dỗ mày làm gì hồi ở miệng núi lửa rồi.”
Hơn bất cứ điều gì khác mà lão Wren đã nói, câu cuối cùng này làm tôi nhức nhối. Thanh Silverlight lại biến mất, và tôi đứng thẳng lên hết cỡ. “Hàng triệu tiếng nói của người chủng elf sẽ chẳng bao giờ vang lên trong các khu rừng của tổ tiên họ nữa, bởi vì lão Aldir đã hủy diệt cả tiếng nói lẫn khu rừng. Nếu ông nghĩ rằng lão Aldir chết chỉ đơn giản để tôi được tên Kezess vỗ vai khen ngợi, thì lũ asura các người còn ngu dốt hơn bọn ta, những kẻ bị gọi là lũ hạ đẳng.”
Cái lườm của lão Wren đủ mạnh đến mức làm nát cả đá hoa cương. “Vậy là mày có thể tha thứ cho tên bạo chúa đã ra lệnh thực hiện một hành động tàn bạo như vậy nhưng lại không tha thứ được cho người lính bị buộc phải thực hiện nó sao? Mày thực sự từng là một vị vua à?”
“Đừng nhầm lẫn với việc tha thứ là vì cần thiết phải làm thế,” tôi trả lời, lời lẽ cứng rắn và lạnh như dao.
Lão Wren khịt mũi với vẻ chế giễu, nhưng nếu còn điều gì khác định nói, thì hẳn lão ấy đã giữ lại trong lòng.
Ông Mordain hắng giọng. “Tôi không ở vị trí có quyền đưa ra phán xét về những gì đã xảy ra. Lục địa Epheotus sẽ tiếc thương cho sự ra đi của một chiến binh vĩ đại, nhưng cũng có thể người dân của cậu sẽ tán dương cái chết của anh ấy khi xem nó là một sự công bằng. Cái gì đã qua rồi thì nên cho qua.” Ánh mắt ông ấy chuyển sang bé Sylvie. “Có vẻ như cậu đã thành công với mục đích của mình rồi.”
Nhờ cả vào lão Aldir, tôi nghĩ trong lòng, ghi nhận sự hy sinh của ông ấy một cách thầm lặng ngay cả khi tôi không thể nói to điều đó ra được.
Bé Sylvie tiến lên một bước và hơi cúi đầu. “Thưa ngài Lãnh chúa Mordain của tộc Asclepius. Cảm ơn ngài đã hỗ trợ cho người khế ước với con.”
Lông mày ông Mordain nhướng lên, biểu cảm của ông ta khi nhìn cô bé thật khó để phân tích. “Tiểu thư Sylvie của tộc Indrath. Ta đã biết xuất thân của con rồi. Dòng máu nửa chủng rồng, nửa chủng basilisk, được con người nuôi nấng. Một sự phức trộn của nhiều mâu thuẫn. Ta tự hỏi, lòng trung thành của con đặt ở đâu đây?”
Bé Sylvie hơi nâng cằm lên, và tôi cảm thấy ngọn lửa quyết tâm bên trong cô bé như bùng lên. “Ở ba Arthur, như mọi khi. Dicathen là nhà của con, người thân ở đó là người thân của con. Kẻ thù ở đó”—con bé nhìn thẳng vào mắt ông phượng hoàng cổ đại kia, từng âm tiết trong câu chữ được trau chuốt đến mức độ tinh tế—“là kẻ thù của con.”
(Nguyên văn: “It’s enemies” là tác giả đánh máy sai của cụm từ “Its enemies”)
Ông Mordain trầm ngâm nghĩ ngợi. “Ấy vậy mà con sẽ luôn bị lôi kéo theo không phải chỉ hai mà là ba hướng khác nhau. Cả hai phe phái asura sẽ cố tận dụng và thao túng con vì lợi ích của họ. Arthur vốn đã bước sát mép vực nguy hiểm trong các thỏa thuận của cậu ta với ông ngoại con rồi. Sự trở lại của con sẽ làm điều đó trở nên phức tạp thêm.”
Tôi di chuyển đến đứng kề bên cô bé kết khế ước với tôi, đặt một tay lên vai cô bé. Regis sải bước về phía trước, đứng cạnh tôi ở bên còn lại. “Những lời cảnh báo của ngài bắt đầu nghe giống với dọa dẫm hơn.”
Ông Mordain nói: “Tôi không ước ao gì chuyện đó đâu. Cậu không có vẻ gì là người dễ bị gài bẫy, nhưng chống lại một thế lực như tên Agrona, không ai miễn nhiễm với sự cám dỗ cả.”
Ánh nhìn của ông ấy dường như xuyên thấu tâm trí tôi và gợi lại ký ức về việc tôi đã cầu xin tên Agrona chấp nhận thỏa thuận cũ của hắn ra sao: sự an toàn của gia đình tôi để đổi lấy việc chính tôi đồng ý ngừng tham gia vào cuộc chiến này.
Thái độ của tôi trở nên lạnh lùng khi tôi nhìn chằm chằm đáp lại. “Tôi đã trải qua những thất bại và tôi đã trưởng thành, nhưng, không giống như những kẻ chọn vùi đầu xuống đất để lờ đi, tôi vẫn tiếp tục chiến đấu.”
Ông Mordain vẫy tay, xua đi cuộc tranh cãi của chúng tôi kèm một nụ cười mỉm thể hiện sự khôn ngoan sâu sắc. “Tôi sẽ không tự phụ đến mức bảo rằng tất cả các cậu phải làm cái gì. Số phận của thế giới này nằm trong tay các cậu, không phải tôi. Nhưng tôi biết rõ gã Lãnh chúa tộc Indrath—và cả tên Agrona nữa—và cả hai người bọn chúng sẽ coi sự trở lại của bé Tiểu thư Sylvie là cơ hội để làm tổn thương đối phương, cho dù bọn chúng có dùng cô bé làm vũ khí hay lá chắn đi chăng nữa. Cậu nhất định không thể để chúng làm vậy.”
Tôi nói: “Chúng tôi sẽ không để như thế,” siết chặt vai bé Sylvie trước khi thả tay xuống.
“Tốt!” Giọng Chul vang lên như tiếng đại bác bắn khiến vài người phượng hoàng đứng gần đó giật cả mình. “Vậy thì đã đến lúc đi chưa?”
Quay mặt lại đối diện với cái gã bán asura này, tôi nở một nụ cười chữa thẹn. “Tôi e rằng việc lũ rồng xuất hiện sẽ gây nguy hiểm cho cậu khi đi cùng chúng tôi. Tôi—”
Lão Wren nói: “Chúng ta đã nghĩ đến điều này rồi, phải không?” lời lẽ đầy gai góc. “Ta đã tạo ra một vật tạo tác có thể ẩn đi dấu hiệu mana độc nhất của Chul để sự hiện diện của cậu ta cũng giống như một tên con người đần độn khác.”
Tôi hỏi: “Nhanh vậy sao?”
Lão Wren Kain khịt mũi. “Nhanh á? Đã hai tháng rồi nhóc à.”
Chul ưỡn ngực ra và giơ lên một cái vòng tay trông chẳng có gì đặc sắc được rèn bằng thứ kim loại xỉn màu. “Trong khi tôi đang phấn đấu để trở thành một ngọn giáo đâm thẳng vào kẻ thù của ta, tôi sẽ đeo chiếc mặt nạ của sự mù mờ từ lúc này.”
Kích hoạt chiêu Realmheart, tôi kiểm tra cậu ta kỹ hơn. Dấu hiệu mana của cậu ấy rất mạnh mẽ nhưng không nổi bật đến mức để lộ ra không thuộc chủng người. “Ông cũng không thể sửa được mắt cậu ấy à?”
Chul khoanh tay và lườm mọi người lẫn mọi thứ. “Mắt tôi không có hỏng.”
“Vậy thì chắc là đủ rồi.” Tôi chìa tay về phía ông Mordain.
Ông ấy đứng dậy và bắt tay thật chặt. “Cậu sẽ không thể đi quá xa mà không thu hút sự chú ý của cái lũ mới lên bảo hộ cho Dicathen này.
Có một lối ra thứ hai sẽ dẫn cậu đi khỏi khu Hearth khá xa trước khi lên mặt đất. Tôi sẽ dẫn đường cho cậu. Trong khi ta cùng đi, tôi có thể kể cho cậu chút ít điều mà tôi biết về sự hiện diện của lũ rồng trên lục địa này.”
Tôi nói với lão Wren: “Vậy thì tạm biệt ông,” đồng thời cũng chìa tay ra bắt tay lão. “Tôi hiểu cảm xúc của ông và sẽ không bảo ông phải nén giận lại. Nhưng tôi vẫn muốn từ biệt với những lời lẽ tốt đẹp hơn.”
Lão hỏi: “Từ biệt á?” rồi nhìn tôi với vẻ hoài nghi. “Ta sẽ đi cùng ngươi. Ta không bám theo gã Aldir chỉ để đi trốn đâu.” Ánh nhìn lão nhảy qua phía ông Mordain. “Không có ý xúc phạm gì cả nhé.”
Ông Mordain cười nhẹ với lão ta. “Lại đây, đường này. Phải mất vài giờ đi bộ qua những đoạn đường hầm hiếm khi dùng.”
***
Khi chúng tôi đến gần cuối đường hầm dài được đào bới sơ sài, các rễ cây dày đặc bắt đầu đâm xuyên qua tường và trần hầm. Một cái hốc kiểu như hang được khoét vào mỡ rễ cây, với nhiều ống đường hầm khác hội tụ về đây. Đáng lẽ cái cây này phải cao lên trên đầu chúng tôi thì thay vào đó chỉ còn mỗi cái gốc cây trống rỗng bị khoét sâu vào. Đất đá và thân gỗ còn lại của cây đã bị cháy đen.
“Một con phượng hoàng bậc thấp (phoenix wyrm) từng làm tổ ở đây, nhưng nó đã biến mất từ vài năm trước,” Ông Mordain đứng ngay cửa hang nhận xét. “Đứng từ tận đây mà ta còn cảm nhận được bọn rồng đấy. Con có thể cố che đi dấu hiệu mana của mình, nhưng ta nghi ngờ không biết liệu con có lén lút đi từ đây đến tận vùng Darv nổi hay không.”
Chul nói: “Lén lút chỉ dành cho bọn yếu đuối và những người có điều gì đó khuất tất cần phải giấu,” giọng trầm của cậu ta vang đến mức khiến lớp bụi phủ lên mấy cái rễ mọc chìa ra trên đầu chúng tôi bị thổi rung lên.
“Cậu mới là thứ ta cần phải giấu ở đây đấy, đồ thông minh à,” Regis thở dài nói.
Lão Wren đảo mắt chán chường, và Chul gãi đầu kèm một cái cau mày với vẻ xấu hổ.
“Có đám lính của thằng Kezess ở đây. Giả sử như, chúng là đồng minh của tôi,” tôi nói. “Thì việc cố trốn tránh không để chúng phát hiện có thể tạo ra nhiều nghi ngờ hơn cả việc tôi đột ngột xuất hiện trở lại sau hai tháng đấy.”
“Dĩ nhiên, mọi việc tiếp theo ra sao là tùy ở cậu,” Ông Mordain gật đầu thừa nhận. Ông ấy nắm lấy tay Chul và áp nó vào ngực mình. “Đừng để mấy cơn thịnh nộ của con mất kiểm soát. Nếu con thực sự mong tìm lại công lý cho mẹ mình thì sẽ cần thời gian và sự kiên nhẫn. Hãy để những đồng đội mới của mình dẫn lối cho con trong việc này.”
“Ý ngài là hãy để họ bảo vệ con khỏi mấy cơn bốc đồng tệ nhất của mình à?” Chul nghiêm chỉnh nói. “Con hiểu rồi.”
“Vậy thì tạm biệt. Chính ta hy vọng rằng con sẽ trở lại với chúng ta sau khi tất cả những chuyện này kết thúc.” Còn với tôi, ông ấy nói thêm, “Tôi tin tưởng cậu sẽ trông chừng người thân của tôi, Arthur Leywin. Đây thật không phải là một nhiệm vụ—hay sự ủy thác—dễ dàng gì mà tôi gửi gắm cho cậu.”
Tôi nói: “Tạm biệt, ngài Mordain,” rồi nhảy qua hốc cây cháy đen kia để phi lên nền đất rừng phía trên. Những người khác bay lên theo tôi.
Tôi nói: “Hãy ức chế dấu hiệu mana của mọi người lại,” sau đó bắt đầu đi xuyên qua bụi cây rậm rạp.
Chúng tôi bị bao quanh bởi những cái cây khổng lồ, rậm lá trông như các tháp canh đang che khuất bầu trời giữa buổi sáng. Tôi vẫn tiếp tục để chiêu Realmheart hoạt động, cảm nhận dấu hiệu mana từ các con quái mana nguy hiểm sinh sống ở những khu sâu nhất trong vùng Beast Glades này. Chẳng có con quái mana nào ở cả hai lục địa có thể gây đe dọa nổi cho cái nhóm này, nhưng tôi không muốn bị chậm trễ hay phân tâm do phải giết mọi loại quái mana đụng phải.
“Cứ đi với tốc độ này thì chiến tranh sẽ kết thúc trước cả khi ta đến nơi mất,” Sau khoảng hai mươi phút hơn thì Chul càu nhàu. “Cậu định đi bộ hết cả quãng đường à?”
“Không,” tôi lặng lẽ trả lời. “Tới đây chắc là đủ xa rồi.”
Giống như những người khác, tôi đã kìm hãm quầng hào quang aether luôn phát ra từ người mình lại, nhằm che giấu bản thân thật hiệu quả khỏi lũ rồng cảm nhận được aether. Tôi thả sự kiềm hãm ra, giống như thả lỏng bàn tay sau khi co lại thành nắm đấm, và dấu hiệu aether từ tôi tỏa ra ngoài như ngọn đèn hải đăng. Tôi chủ động bung mạnh nó ra, vì muốn đảm bảo có kẻ cảm nhận được nó.
Chul và lão Wren không thể cảm nhận được năng lượng aether, nhưng họ vẫn cảm thấy được áp lực từ nó. Lão Wren hỏi: “Nhà ngươi định làm gì?” nhìn tôi với vẻ hoài nghi.
Một tiếng gầm xé toác không trung như sấm dội. Tiếng cành cây gãy gọn ghẽ và móng vuốt nặng nề kéo lê kèn kẹt đang nghiền nát nền đất trong rừng. Mặt đất rung chuyển cùng từng bước chân một.
Chul cười toe toét và tự tin bước ra đứng trước mặt những người khác. Một món vũ khí khổng lồ xuất hiện trong nắm tay cậu ta, chỉ to hơn một chút so với một quả cầu tròn bằng sắt có bề ngoài sần sùi gắn trên đầu cán cầm dài. Trên quả cầu này có các vết nứt phát ra ánh sáng màu cam như thể lõi quả cầu đang nóng chảy. Quả cầu phải to ngang bề rộng giữa hai bờ vai tôi. Quả chùy này phải nặng cả tấn, nhưng cậu ta cầm nó dễ dàng.
(Người dịch: vũ khí to đùng Chul cầm thực ra là một quả chùy có cán cầm dài. Đường kính quả chùy này cỡ bả vai Arthur tính từ vai bên này qua vai bên kia. Quả chùy này sần sùi chứ không có gai, trên bề mặt sần sùi có các vết nứt, trong khe nứt có tỏa ra ánh sáng màu cam)
Một con quái khiếp đảm cao chót vót, đi bằng hai chân lao thẳng vào tầm mắt, bộ hàm dài to lớn há to ra, ba con mắt nhỏ tròn sáng lóe với vẻ khao khát săn mồi nằm ở mỗi mặt bên của cái đầu phẳng dẹp nhô dài ra. Nó khiến tôi liên tưởng đến một con cá sấu Bắc Mỹ ở Trái đất đang đứng bằng hai chân sau, ngoại trừ hai cánh tay của nó cơ bắp cuồn cuộn nổi cả gân và bộ móng vuốt sắc như dao cạo, và nó đứng cao phải hơn hai mươi feet.
(Người dịch: đầu con này giống cá sấu. Cá sấu Bắc Mỹ (alligator) khác với cá sấu nước mặn (crocodile) ở chỗ con alligator mõm dài hơn nhọn hơn trong khi con crocodile thì mồm ngắn hơn, bầu bĩnh hơn)
Với một tiếng gầm xung trận đầy sung sướng, Chul phóng người về phía nó, đập vũ khí xuống đầu nó.
Lớp rào chắn tự nhiên bằng mana bọc con quái cấp S để bảo vệ nó vỡ tan do lực từ cú đánh, và một ngọn lửa màu cam rực rỡ phụt ra từ các vết nứt ở đầu cây chùy khi nó nghiền hết lớp da dày bọc ngoài, đến khung xương cứng, rồi lớp thịt bên trong thành bột.
Chul đáp xuống đất với dáng thanh tao đến độ đáng ngạc nhiên so với một kẻ có kích thước to lớn như cậu ta. Xác con quái mana đổ sập xuống đất mạnh hơn nhiều, tạo ra một làn sóng chấn động lan khắp khu rừng. Một mớ dấu hiệu mana mạnh mẽ tương tự con này vốn đang hội tụ dần về vị trí của chúng tôi bỗng dừng lại, rồi từ từ phân tán ra khắp nơi.
Chul nói: “À, đánh thế để cảm nhận sức nóng bỏng rát của trận chiến như rượu mật ong đang chảy vào huyết quản tớ,” hít một hơi thật sâu. “Thật tệ là con thợ săn này còn non quá. Nếu nó mà trưởng thành toàn diện, thì trận chiến của ta có thể là một trận đáng để lưu truyền đấy!”
Bé Sylvie nói: “Chúng đang đến,” mắt cô bé nhìn vào khoảng không duy nhất trên trời mà chúng tôi có thể thấy được qua những cành cây và tán lá rậm rạp ở đây.
Lão Wren nói: “Ta hãy gặp bọn chúng ở một chỗ bằng phẳng hơn,” rồi lão cào mấy ngón tay dính đầy đất cát vào mớ tóc rối bù của mình.
Bằng một cái vẫy tay, mana thuộc tính đất bắt đầu tụ lại, bị rút từ dưới mặt đất lên rồi hóa cứng lại thành lớp đá rắn. Chỉ trong vài giây, một con tàu đã được đúc ra trông giống một chiếc thuyền buồm đang nổi lơ lửng giữa những tán cây khổng lồ. Nó được tạo ra từ đất đá, nhưng các phần kết cấu được thể hiện tinh xảo đến mức gần như không thể phân biệt được giữa đất đá với vải và gỗ.
Bé Sylvie vòng tay quanh người tôi và ôm tôi nâng lên lơ lửng bay qua lan can con tàu, đặt chúng tôi xuống boong tàu. Hai người còn lại cũng làm theo, và con tàu bắt đầu trồi lên cao hơn và vượt qua các cành cây trong rừng.
Regis hít một hơi thật sâu rồi thở ra vui vẻ. “Trò này đã thật. Tôi đã luôn muốn trở thành một tên cướp biển. Gắn thêm một miếng bịt mắt sẽ thực sự nâng tầm ngoại hình lưu manh của tôi lên, cậu có nghĩ vậy không?”
Chul hỏi: “‘Cướp biển’ là cái gì?” nét mặt vuông phẳng của cậu ta nhăn lại vì bối rối.
Gác tay lên lan can tàu, tôi nhìn về phía Tây hướng dãy núi Grand Mountains đằng xa. Sa mạc rộng lớn của vùng Darv nằm ở mặt bên kia dãy núi, và ẩn bên dưới nó là gia đình tôi và hết thảy những người đang dựa vào tôi. Tuy nhiên, tôi đã cảm nhận được những làn sóng đầy bức bách từ xa đang tỏa ra Vương Lực (King’s Force) của nhiều con rồng.
“Cho tàu di chuyển đi, nhưng chầm chậm thôi, giống như ta đang tìm kiếm thứ gì đó,” tôi nói với lão Wren. Con tàu bắt đầu trôi hướng lên phía trên ngọn cây, dần di chuyển về phía tây.
“Chúng ta nên quy ước một loại tín hiệu nào đó phòng khi cậu muốn bọn tôi tấn công,” Chul nghiêm túc nói, nhìn chằm chằm về hướng đang phát ra dấu hiệu mana gần nhất. “Có lẽ cậu nên hét lên: ‘Tấn công’.”
Tôi nói: “Nhớ rồi,” tập trung vào lũ rồng ở đằng xa.
Bé Sylvie bước lên đứng bên cạnh tôi. Có một vẻ cứng nhắc trong tư thế đứng của con bé mà tôi chẳng thấy quen tý nào. Con không sao chứ? Tôi hỏi con bé ở trong đầu.
‘Con chỉ đang nghĩ về những gì ngài Mordain đã nói. Chỉ nhìn qua là bọn rồng này sẽ biết con cỡ nào, ngay cả khi chúng không biết con là ai. Con thậm chí không thể bắt đầu lường trước tất cả những thứ—thứ…” Bé Sylvie nhăn mặt, mắt nhắm chặt lại. Nó quay mặt đi chỗ khác và mối liên kết tâm trí giữa chúng tôi bị cắt đứt khi con bé che chắn suy nghĩ của mình lại.
“Sylv, chuyện gì—”
Con bé lắc đầu, và mở mắt ra trở lại. “Không có gì. Chỉ là một loại dư chấn nào đó từ việc phục sinh thôi.” Nó lườm thẳng về phía trước theo hướng mà hai dấu hiệu mana đang phát ra.
Chẳng biết làm thế nào để an ủi con bé nữa, tôi cũng hướng ánh nhìn thẳng về phía trước. Một dấu hiệu mana đến từ hướng bắc, làm thành một chấm nhỏ xíu chỗ đường chân trời. Dấu hiệu thứ hai ở xa hơn một chút, bay từ phía dãy núi về hướng tây bắc. Dấu hiệu thứ ba thì tiếp cận từ bờ biển ở phía tây nam.
Đứa đầu tiên đến là một con rồng lớn, có vảy xanh màu ngọc lục bảo, to bằng nửa con tàu của chúng tôi. Khi còn cách khoảng một trăm feet, hắn quay lại để bay bên cạnh chúng tôi, đôi mắt màu vàng sáng chói của hắn nhìn quét qua boong tàu. Cặp mắt đó dừng lại trên người bé Sylvie, lúc đầu nheo mắt lại như thể hắn không chắc có tin nổi vào mắt mình hay không, sau đó mở to mắt ra.
Con thứ hai, lớn hơn con thứ nhất một chút, với lớp vảy trắng như ngọc trai lấp lánh dưới ánh nắng, bay vòng lên phía trên khúc sau tàu chúng tôi, thân hình đồ sộ của cô ả che khuất mặt trời và khiến nguyên boong tàu trong chìm bóng của nó.
Con thứ ba là một sinh vật dáng mỏng uyển chuyển có lớp vảy màu đỏ thẫm dường như hấp thụ ánh sáng mặt trời, không ánh lấp lánh hay tỏa sáng ngay cả khi nó vỗ cánh. Khuôn mặt hắn, với bộ hàm đủ lớn để nuốt chửng cả Chul, đầy những vết sẹo từ chiến đấu, và có một vết rách tơi tả bên rìa mép phải của hắn. Hắn nghiêng nhanh áp vào mạn trái tàu khiến thành ra lũ rồng này đang bao vây chúng tôi.
Con rồng màu xanh nói, mana phát ra kèm các từ ngữ để mang chúng dễ dàng vượt qua tiếng ồn và khoảng cách đến tai chúng tôi: “Arthur Leywin. Chúng ta chưa từng gặp nhau, nhưng ta nhận ra ngươi nhờ vào mô tả. Chúa tể Indrath sẽ hài lòng khi biết ngươi vẫn còn sống. Đã có chút… lo ngại về sự vắng mặt lâu dài của ngươi.”
“Ngươi đã ở đâu?” con rồng màu đỏ gầm gừ, chúi mũi cánh để bay sà đến gần con tàu hơn, cặp mắt to màu nâu đất của nó lần lượt dò xét từng người chúng tôi, kết thúc ở bé Sylvie. “Một con rồng, một gã khổng thần và vài con người đang làm gì ở sâu trong vùng Beast Glades này đây?”
“Đây không phải là sự đón tiếp mà ta nghĩ ông ngoại ta sẽ mong dành cho ta khi ta trở về.” Bé Sylvie hơi nghiêng đầu, cố để trông vừa cáu kỉnh vừa hờ hững khi cô bé tỏ vẻ coi thường con rồng màu đỏ kia. Trái ngược với vẻ đĩnh đạc bên ngoài, tôi cảm nhận được sự khó chịu đang vặn vẹo lan qua kết nối tâm trí của chúng tôi khi cô bé phải viện dẫn đến tên Kezess để bảo vệ cho chúng tôi. “Ngươi nên cẩn thận với người mà ngươi đang ghim bằng cái ánh mắt ác ý đó.”
Đôi mắt của con rồng màu đỏ trợn lên và hắn lùi lại. “Tiểu thư Silvie Indrath à?”
Ba con rồng nhìn nhau đầy hoài nghi. Con màu trắng lên tiếng, giọng nghẹn lại vì xúc động. “Tiểu thư, cô phải đi với tôi ngay lập tức. Tôi sẽ dẫn cô đến vết nứt kết nối thế giới này với Epheotus. Chúa tể Indrath—”
Bé Sylvie nói: “Im đi,” giọng cô bé vang lên như mệnh lệnh. “Lúc này nhiệm vụ của ta nằm ở Dicathen. Nếu ngươi muốn thông báo cho Chúa tể Indrath, cứ việc, nhưng ta sẽ không đi cùng ngươi.”
Con rồng nhăn mặt trước lời cô bé nói, bị tổn thương và sợ hãi. “Tiểu thư à, Chúa tể Indrath mong muốn—”
Bé Sylvie bung ra một làn sóng mana hữu hình để thể hiện sự không hài lòng của mình, cắt ngang lời nói của con rồng trắng kia thêm lần nữa.
“Neriah từ tộc Mayasthal xin tuân lệnh,” con rồng thốt lên gấp trước khi quay sang hai tên kia. “Hộ tống Tiểu thư Sylvie đến nơi cô ấy muốn.”
Quay đi, con rồng trắng bay nhanh về phía đông, tiến sâu hơn vào Beast Glades.
Chỉ sau đó tôi mới cảm nhận được mana chuyển động nhè nhẹ từ hướng đó, giống như một làn gió nhẹ đang thổi từ hướng tây ào qua vùng Beast Glades. “Đó là gì thế?” Tôi hỏi lão Wren, người cho đến nay vẫn đang im lặng nhìn và không nói chuyện trực tiếp với lũ rồng.
(Nguyên văn: “like a light breeze was blowing it westward over the Beast Glades.” Lỗi đánh máy, đúng ra phải là “its westward”)
“Gã chúa tể Indrath đã mở con đường di chuyển giữa các thế giới,” lão nhẹ nhàng nói. “Lục địa Epheotus vốn nằm trơ trọi giữa vũ trụ rộng lớn.”
(Nguyên văn: “Lord Indrath has opened the way between the words,” Lại lỗi đánh máy, lẽ ra phải là “the worlds”)
“Hai ngươi, cho bọn ta chút không gian thoải mái,” Bé Sylvie ra lệnh cho hai con rồng xanh và đỏ. “Các người không phải đang áp giải tù nhân đâu.”
Con màu xanh lá cây gật đầu kính cẩn trước khi nghiêng người lượn đi, bay cách vài trăm feet về phía mạn phải của chúng tôi. Con da màu đỏ do dự, quan sát kỹ cô bé, rồi ánh mắt hắn chuyển sang nhìn tôi và gương mặt đanh lại. Hắn từ từ trôi đi, chậm hơn nhiều so với con đồng đội của mình.
Con tàu của chúng tôi điều chỉnh lại lộ trình và tăng tốc để bay thẳng về phía dãy núi Grand.
Ở đằng xa, có thể thấy rõ nhiều con rồng hơn đang bay qua các ngọn núi và biên giới giữa hai vùng Beast Glades và Hoang Mạc Elenoir.
Cả một bức màn che chắn hiện ra trước tầm mắt được tạo nên từ nhiều cặp cánh, bộ vuốt và khói lửa.
‘Một bức màn che chắn phòng thủ…hay một nhà tù đây,’ Regis đáp lại với một nụ cười nhếch mép. “Ta đi xem nó là gì nào.”
Tác giả: TurtleMe
Người dịch: Nightmoonlight
Ghi chú của người dịch
-
1.
⤴︎
Cử chỉ “ra dấu hòa bình” (a sign of peace): - 2. Tóm tắt chương: Art về quá trễ và rồng, rồng, rồng everywhere.
- 3. Sau hàng chục chap dịch thì dựa trên các lỗi sai về mặt phát âm, mình nghĩ tác giả không gõ máy khi viết tiểu thuyết mà dùng phần mềm voice-to-text để chuyển giọng nói thành văn bản.
- 4. Ver.1: 28-May-2023; ver.2: 30-May;